Chùa Việt Nam

Đình Minh Hương Gia Thạnh

TP. Hồ Chí Minh

Đình Minh Hương Gia Thạnh

Giới thiệu & lịch sử

Đình Minh Hương Gia Thạnh (tên chính thức: 明鄉嘉盛會館, Minh Hương Gia Thạnh Hội Quán) do người Hoa sang định cư, rồi xây dựng trên đất Đề Ngạn xưa (Chợ Lớn ngày nay) vào đầu thế kỷ 18. Ngôi đình hiện tọa lạc tại 380 đường Trần Hưng Đạo, phường Chợ Lớn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguồn gốc

Năm 1698, một số con cháu người Hoa đã ngụ cư từ lâu ở dinh Phiên Trấn xin thành lập làng Minh Hương, tức ngay khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam lập phủ Gia Định.

Tuy nhiên, theo Hương ước của làng, thì năm 1789, mới là năm chính thức lập "Minh Hương xã" và liền sau đó, một ngôi đình do nhiều người Hoa đóng góp được dựng lên, để có nơi thờ cúng và chức sắc xã có nơi làm việc. Năm 1808, vua Gia Long ban cho tên "Gia Thạnh đường". Năm 1867, chính quyền Pháp thay đổi cơ cấu hành chính, đình không còn là nhà việc của xã, vì thế đình trở thành hội quán của Hội Minh Hương Gia Thạnh.

Đề cập đến cổ tích này, học giả Vương Hồng Sển viết:

Một ngôi chùa... liên hệ rất nhiều đến lịch sử là chùa Minh Hương Gia Thạnh, lập năm Kỷ Dậu (1789) do di thần Minh mạt và con cháu Minh Hương, dựng trong Chợ Lớn (Sài Gòn thời đó), để di dưỡng tinh thần yêu cố quốc, mến quê hương, chùa nầy đến nay khói hương không dứt, được tiếng khéo tu bổ, khéo săn sóc nhứt trong vùng.

Kiến trúc

Đình Minh Hương Gia Thạnh từ khi được xây dựng, trải qua vài lần trùng tu vào các năm 1839, 1901 và 1962. Lần cuối, có sử dụng một số vật liệu hiện đại và xây thêm tầng lầu trên chính điện.

Đình bằng tường gạch, xây theo kiểu nhà năm gian. Mái đình lợp ngói ống, trang trí hình lưỡng long tranh châu, cá hóa long, tượng ông Nhật bà Nguyệt, phù điêu trích tuồng tích của Trung Quốc... do lò gốm Đồng Hòa sản xuất năm Tân Sửu (1901). Trước đình có hai câu đối chữ Hán đề: 嘉献复振基光旧, 盛德长留庙貌新 (Gia hiến phục chấn cơ quang cựu, thịnh đức trường lưu miếu mạo tân), nghĩa là: Gia tăng văn hiến, chấn hưng nghiệp xưa, chỉnh trang nên móng cũ, làm hưng thịnh đức độ, chuyển nối lâu dài, dựng xây đền miếu mới.

Nội thất đình bao gồm võ ca, chính điện và hậu điện. Bên phải võ ca có miếu Ngũ Hành. Bộ khung gỗ kết cấu kiểu kẻ chuyền và các cột gỗ kê trên chân đế bằng đá, tạo cho đình thêm nét cổ kính. Trên cột và các đà ngang treo nhiều hoành phi, câu đối, phần lớn được làm từ đầu và giữa thế kỷ 19...

Chính điện đình xây trên nền cao, phía trước trang trí ba bao lam chạm lộng các đề tài tùng-hạc, mai-điểu, liên-áp, giỏ cua, giỏ trái cây... Cuối chính điện là ba khám thờ lớn bằng gỗ đặt trên bệ gạch, được chạm viền chung quanh lưỡng long tranh châu, lân, phụng, dây hoa...

Thờ cúng

Sơ lược cách bài trí:

Khám thờ thần đặt ở giữa với các bài vị: Ngũ thổ tôn thần, Ngũ cốc tôn thần, Đông trù tư mệnh, Bổn cảnh thành hoàng. Phía trước khám thờ này có một lư trầm bằng đá, 2 tượng Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh cũng bằng đá đặt 2 bên.

Bên trái là khám thờ Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh và Đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên.

Bên phải thờ là khám thờ Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh, 2 người Minh Hương làm quan đến chức thượng thư.

Ngay sau chánh điện là sân rất rộng gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời), kế đến là hậu điện. Ở đây cũng có 3 khám thờ trang trí giống nhau để thờ các vị tiền hiền khai sáng ra làng (khám giữa), các hương chức và phu nhân có công, vợ chồng ông Trương Công Sĩ, người đã tặng đất cho xã (khám trái) và những viên chức nhỏ có công (khám phải).

Ở miếu Ngũ Hành thờ Ngũ Hành Nương Nương và Chúa Sinh Nương Nương (người chuyên lo giúp việc sinh đẻ). Trước tượng Chúa Sinh Nương Nương là tượng 2 người hầu và 12 bà mụ bồng đứa trẻ trên tay. Ngoài ra, Phúc đức chính thần (Thổ Địa) và Bạch Mã Thái giám cũng được thờ ở miếu...

Hiện vật quý

Trong đình, trước chính điện vẫn còn treo tấm biển khắc 4 chữ thiện tục khả phong (tục tốt đáng khen) do vua Tự Đức ban tặng năm 1863 và câu đối của Trịnh Hoài Đức làm năm Minh Mạng thứ 2 (1821):

Minh đồng nhật nguyệt diệu Nam thiên,

Phượng chử lân tường gia cẩm tú

Hương mãn càn khôn binh Việt địa,

long bàn hổ cứ thạnh văn chương.

Tạm dịch:

Sáng cùng nhật nguyệt rạng trời Nam,

Lân múa, phượng bay thêm gấm vóc

Hương khắp đất trời thơm cõi Việt,

Rồng chầu hổ phục thịnh văn chương.

Góc trái chính điện có một chuông đồng do vua Minh Mạng tặng, với sắc phong và cho phép chuyển tên từ "làng" sang "đình". Chuông được gióng một năm một lần vào ngày 16 tháng giêng. Quai chuông là một con rồng hai đầu, bốn chân. Thân chuông đúc nổi 2 hàng chữ "Gia Định thành Minh Hương xã công tạo", "Long tập Quý Mùi thu nguyệt" (chuông do xã Minh Hương thành Gia Định làm năm Quý Mùi, 1823).

Trong đình còn nhiều hiện vật quý khác, như: bia lập năm 1839 ghi tên những người Minh Hương làm quan có tiếng dưới triều Nguyễn, một số hoành phi câu đối (có tất cả 38 hoành phi và 22 câu đối). Đặc biệt là đôi câu đối làm cong theo thân cột, chạm nổi long, lân, qui, phụng...với đầu rồng được chạm cao hơn bề mặt câu đối gần một tấc, hai đỉnh gang làm năm 1842, bộ ghế chạm rồng, phượng; bộ thập bát binh khí...Góc trái miếu Ngũ Hành có một chuông đồng đúc năm Tự Đức thứ 2 (1849).

Giá trị

Đình Minh Hương Gia Thạnh là một trong những ngôi đình xưa ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ý nghĩa là một di tích của xã Minh Hương, nơi thờ tự hương hỏa của người Minh Hương, đình còn có giá trị về nghệ thuật thư pháp, nghệ thuật chạm khắc gỗ mang phong cách Việt Nam thế kỷ 19.

Một giá trị khác nữa, đó là nơi đình này, nhóm Bình Dương thi xã (sáng lập bởi Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định) đã tề tựu, gặp gỡ với nhiều nhân sĩ, để cùng nhau xướng họa thi ca và luận bàn thế sự, vào những năm cuối thế kỷ 18-đầu thế kỷ 19.

Ngày 7 tháng 1 năm 1993, ngôi đình đã được Bộ Văn hóa ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.

Kinh nghiệm đi chùa

  • Trang phục lịch sự, kín đáo; bỏ mũ nón và giữ yên lặng khi vào chánh điện.
  • Hương, hoa và lễ vật thường được bán ngay trước cổng chùa; chỉ nên thắp số lẻ (1 hoặc 3 nén).
  • Hầu hết các chùa mở cửa từ sáng sớm đến chiều tối và không thu vé (một số danh thắng lớn có vé thắng cảnh).
  • Dịp rằm, mùng 1 và lễ Tết rất đông; nếu muốn vãn cảnh yên tĩnh nên đi ngày thường buổi sáng.
  • Xin phép trước khi chụp ảnh trong điện thờ; không tự ý chạm vào tượng và đồ thờ.

Đọc thêm & tham khảo

Các liên kết hữu ích để tìm hiểu thêm trước khi ghé thăm:

Vị trí

Toạ độ: 10.75238, 106.66107

🧭 Chỉ đường trên Google Maps

Chùa khác tại TP. Hồ Chí Minh

🏯
Chùa Đại Tòng Lâm
Chùa Đại Tòng Lâm, tên đầy đủ là Vạn Phật Quang Đại Tòng Lâm Tự; là một ngôi đại tự có nhiều công trình quy mô và hiện đại, chùa nằm trên Quốc lộ 51, khu phố Quảng Phú, phường Phú Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
🏯
Chùa Hộ Pháp (Thích Ca Phật Đài)
Chùa Hộ Pháp là một ngôi chùa có kiến trúc theo hệ phái Nam tông, tọa lạc tại số 610/2A Trần Phú, phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, trong cụm kiến trúc Thích Ca Phật Đài. Ngôi chùa có 4 tấm bia khắc Kinh Chuyển pháp luân (Dharmacakrapravartana Sūtra) bằng 4 thứ tiếng, được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục: "Bia Kinh Chuyển Pháp Luân khảm xà cừ bằng bốn ngôn ngữ có kích thước lớn nhất".
🏯
Chùa Khỉ
Chùa Khỉ (tên gọi chính là Thiền viện trúc lâm Chân Nguyên), tọa lạc tại chân núi Minh Đạm, thuộc xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngôi chùa được xây dựng vào năm 1990
🏯
Linh Sơn Cổ Tự
Linh Sơn Cổ Tự là một ngôi chùa tọa lạc tại 104 Hoàng Hoa Thám, phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 3 tháng 8 năm 1991. Ngôi chùa được xây năm 1919 trên Núi Nhỏ nhưng do bị người Pháp chiếm dụng để xây hoa tiêu nên một ngôi chùa khác đã được xây ở địa điểm hiện nay và tồn tại đến ngày nay. Đây là ngôi chùa cổ nhất Vũng Tàu. Linh Sơn cổ tự tuy không đồ sộ, rộng lớn nhưng là ngôi chùa lâu đời nhất ở Vũng Tàu nằm trên đường Hoàng Hoa Thám, phường Vũng Tàu. Thời kì đầu chùa được xây dựng trên triền núi nhỏ nhưng năm 1919 khu vực này bị người dân Pháp chiếm dụng để xây cất biệt thự cho hoa tiêu của họ ở. Ngay sau đó một ngôi chùa khác đã được xây dựng và tồn tại cho tới ngày nay. Trong chánh điện có một thờ một tượng Phật cao 1,2m bằng đá có phết vàng được điêu khắc rất khéo léo tạo nên vẻ mặt hiền từ và hết sức sống động trên nét mặt của đức Phật theo sắc thái tượng Phật của người Chàm và được các nhà khảo cổ ước tính có cách đây khoảng 1.600 năm. Về nguồn gốc của pho tượng phật, có truyền thuyết kể lại rằng cách đây hơn một năm có đoàn ghe chài lưới từ miền trung vào đánh cá ở Bãi Trước. Trong khi đi kiếm củi ở Núi Lớn tình cờ phát hiện hai pho tượng phật bằng đá vùi dưới đất trên sườn núi gần bãi Dâu. Họ cùng nhau đào lên rồi chờ đến hôm sau làm lễ xin đem về. Dân địa phương biết tin vội kéo đến xem và cho rằng đó là di tích lịch sử của địa phương nên cương quyết đòi giữ lại. Nhóm dân chài miền Trung năn nỉ mãi mới lấy được pho tượng nhỏ đem đi. Pho tượng lớn còn lại được dân làng rước về thờ chính là pho tượng hiện nay ở chùa Linh Sơn Cổ Tự.
🏯
Niết Bàn Tịnh Xá
Niết Bàn Tịnh Xá là một ngôi chùa nằm bên triền Núi Nhỏ, phường Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Tịnh xá được Hòa thượng Thích Thiện Huệ tổ chức xây dựng từ năm 1969 đến năm 1974 trên triền Núi Nhỏ, trước kia có tên là núi Tao Phùng, hướng mặt ra biển. Đây là một công trình đồ sộ gồm nhiều dãy nhà, diện tích gần 10.000 m2 và là địa điểm tham quan du lịch tín ngưỡng nổi tiếng của Vũng Tàu. Ngày 14 tháng 12 năm 1989, chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam công nhận xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.
Thích Ca Phật Đài
Thích Ca Phật Đài
Thích Ca Phật Đài là một quần thể kiến trúc Phật giáo lớn, cũng là một điểm tham quan du lịch và tín ngưỡng nổi tiếng ở phường Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.