Chùa Việt Nam

Đình Hạ Hiệp

Hà Nội

Giới thiệu & lịch sử

Đình Hạ Hiệp là một ngôi đình có vị trí nằm ở xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Ngôi đình này được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam quyết định xếp hạng và công nhận là di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2020. Đình này còn có tên là đình Liên Hiệp hay đình Kẻ Hiệp.

Lịch sử

Đình Hạ Hiệp có vị trí tọa lạc tại xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ. Ngôi đình này thờ Thành hoàng là Tướng quân Hoàng Đạo, một tướng quân tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trong những năm 40 - 43 sau công nguyên. Theo ghi chép, đây là một vị danh tướng dưới thời Hai Bà Trưng. Hiện đình làng Hạ hiệp còn giữ được 27 đạo sắc phong của các đời vua phong Thượng đẳng thần cho Thành hoàng Hoàng Đạo. Việc thờ các vị tướng liên quan đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là hiện tượng phổ biến của nhiều di tích dọc sông Đáy.

Căn cứ vào phong cách nghệ thuật trên kiến trúc cùng những đạo sắc phong thần, ngôi đình này được xác định là có niên đại từ triều nhà Lê (khoảng đầu Thế kỉ 17 trở về trước).

Theo các tài liệu nghiên cứu gần đây, ngôi đình được dựng từ những năm 30 của thế kỉ XVII, hậu cung được dựng vào nửa cuối thế kỉ 17, được tu sửa và mở rộng ở thế kỉ XIX; tiền tế dựng năm 1856 và hai Nghi môn được dựng ở đầu thế kỉ XX. Qua quá trình tồn tại, tới các năm 1751, 1759, 1771 thì được nhân dân trong làng quyên tiền tu sửa đình. Sự việc được ghi lại trong tấm bia "Tại đình bi" hiện dựng bên trái đình (niên đại của tấm bia ghi là năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771). Năm 1816, đình tiếp tục được tu bổ, làm thêm hai bể nước bằng đá, một số hòm sớ, đồ thờ tự khác... Những năm gần đây, đình tiếp tục được nhà nước Việt Nam cũng như nhân dân trùng tu và gìn giữ.

Kiến trúc

Về mặt kiến trúc, đình Hạ Hiệp gồm nhiều hạng mục công trình tọa lạc trên một khu đất có diện tích khoảng 3.000m2. Ngoài hai cổng trước, sau, hồ nước, sân... kiến trúc chính hiện nay của đình làng Hạ Hiệp gồm 3 phần: tiền tế, đại đình, hậu cung, tạo nên một mặt bằng công trình chính có dạng tiền hình chữ Nhất, hậu chữ Đinh. Cùng với việc thờ Thành Hoàng làng, đình Hạ Hiệp còn kết hợp thờ cả ông Đặng Trung hầu (tên chữ là Phúc Ánh), người đã có công tu sửa đình. Ban thờ Đặng Trung hầu được làm trên một khám thờ lửng giữa hai hàng cột hiên ngoài, chái bên trái Đại đình.

Nghi môn

Đình Hạ Hiệp có hai nghi môn (cửa chính): nghi môn thứ nhất nằm phía trước tòa Tiền tế, trên trục thần đạo và hiện chỉ còn mang ý nghĩa tượng trưng bởi đường qua lại từ phía này đã bị bịt kín. Nghi môn thứ hai nằm phía bên trái Đại đình, sát đường trục chính của xã. Kích thước các cột trụ ở Nghi môn này nhỏ hơn ở Nghi môn thứ nhất.

Tiền tế

Tiền tế là một tòa nhà hình chữ nhật gồm ba gian hai chái, hai tầng tám mái xếp theo kiểu chồng diêm, được dựng trên một cấp nền cao hơn mặt sân phía trước 0.17m. Nền nhà được lát gạch màu đỏ, theo mạch chữ công. Bộ khung gỗ của Tiền tế đình làng Hạ Hiệp được dựng trên 4 hàng chân cột đều có thiết diện vuông: 2 hàng cột cái (bằng gỗ) và 2 hàng cột quân (bằng đá).

Đại đình

Đại đình gồm ba gian hai chái nhưng mỗi chái có kích thước lớn gần như một gian. Toàn bộ công trình này được dựng trên một cấp nền hình chữ, bó vỉa xung quanh là những viên đá xẻ. Thời xưa, khu vực này vốn có sàn. Theo nhiều người lớn tuổi ở đây kể lại thì sàn đình đã bị dỡ trong khoảng từ năm 1968 đến 1970. Bộ khung Đại đình được dựng trên 6 hàng cột gỗ lim.

Hậu cung

Hậu cung là nơi đặt bài vị thờ Thành hoàng gồm 2 gian, dựng vuông góc với tòa ngoài, có hai lớp mái trước, sau, xây tường bít đốc và được dựng vuông góc với Đại đình tại vị trí gian giữa. Hậu cung gồm 3 bộ vì nóc. Bộ vì nóc ngoài cùng được đỡ bởi một câu đầu kê trên hai đầu cột quân bên phải và bên trái vì gian giữa Đại đình. Bộ vì nóc thứ hai Hậu cung được làm kiểu ván mê. Hai bộ vì nóc phía ngoài và phía trong lại được làm kiểu biến thể giá chiêng, chồng rường con nhị. Liên kết ở vì nách Hậu cung là kiểu dùng kẻ. Khu vực này được xem là cung cấm, nơi trang nghiêm nên Hậu cung đình làng Hạ Hiệp được xây tường bao kín đáo, theo kiểu thức tường hồi bít đốc tay ngai. Mỗi mái Hậu cung còn có 8 hoành. Hậu cung được trang trí trên kiến trúc đình Hạ Hiệp: tập trung bên ngoài, trên hệ mái tại Nghi môn, chủ yếu là những con vật thần thoại và mang tính ước lệ như rồng, lân, phượng, voi, ngựa, các hoa văn chữ Triện.

Chạm khắc

Đình Hạ Hiệp có rất nhiều hình tượng con người được chạm khắc như những đạo sĩ ngồi bó gối trầm tư, người bắt lợn, chồng nụ, chồng hoa, thôn nữ ngồi trên đầu rồng, đá cầu, cưỡi ngựa, cưỡi voi, quản tượng.

Tại đây còn xuất hiện những bức chạm dị thú như mãng xà được khắc theo hình tượng hung dữ, đang nhìn đám trai làng vật nhau. Trong cuốn sách hồ sơ di tích của ngôi đình này, cũng như theo lời giới thiệu của những người lớn tuổi, dị thú này được gọi là Makara. Tuy vậy, hiện tại những nghiên cứu trước đây về ngôi đình này đa phần tập trung vào mảng chạm bắn hổ và các hoạt cảnh rồng tiên, đấu vật hay chọi gà. Dị thú mãng xà này có chiều dài gần 1m được miêu tả là có "thân đứng thẳng, có bốn chân, thân có vảy như rồng, mắt trợn to, mồm răng lởm chởm, miệng ngậm ngọc". Đây chưa thể xem là Makara vì hình tướng mãng xà khá rõ, có phần giống với hình mãng xà trong bức tranh Thạch Sanh đánh xà tinh của làng tranh Đông Hồ. Makara có một đặc trưng tiếu tượng là chiếc nanh ở hàm trên dài, cong vút lên trên, mũi dài cuộn lên trên, mang những đặc tính của voi. Các đặc điểm trên đều không có ở bất kỳ dị thú nào ở đình Hạ Hiệp. Qua nghiên cứu hình tướng và đối chiếu với các hoạt cảnh xung quanh cùng ngữ cảnh chung của các bức chạm khắc ở nơi đây, có giả thuyết cho rằng đây là bức chạm mô tả Quỷ Xương cuồng (tức Mộc tinh) đã từng được kể đến trong sách Lĩnh Nam chích quái.

Di sản

Đình Hạ Hiệp được cấp bằng di tích cấp quốc gia năm 1991. Sau đó, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam quyết định xếp hạng và công nhận ngôi đình là di tích quốc gia đặc biệt, hạng mục "Di tích kiến trúc nghệ thuật" vào năm 2020.

Hạ Hiệp là một trong số ít ngôi đình niên đại khởi dựng từ nửa đầu thế kỉ 17 còn bảo tồn được nguyên vẹn về kiểu dáng kiến trúc. Các mảng trang trí chạm khắc có niên đại trải dài từ thế kỉ 17 đến đầu thế kỉ 20 tương đối phong phú, tạo nên đặc trưng riêng. Với hàng trăm mảng điêu khắc, trang trí thuộc giai đoạn nhà Hậu Lê, nhà Nguyễn đã cho thấy tính khéo léo của các nghệ nhân đương thời. Những mảng chạm khắc trang trí ở đình làng Hạ Hiệp thể hiện "tính dân gian sâu sắc với nhiều đề tài phong phú".

Ngôi đình cổ này còn bảo tồn đầy đủ các di vật có giá trị, trải qua nhiều thế kỉ. Những chiếc kiệu, hòm sớ, sắc phong, bia đá, bể cảnh,... đã tạo nên một bộ sưu tập các đồ thờ tự có giá trị cao về mặt lịch sử, văn hóa. Những hiện vật được coi như độc bản đã trở thành niềm tự hào của người dân làng Hạ Hiệp, thậm chí còn cho thấy sự bền vững của di tích qua gần 4 thế kỉ tồn tại.

Đặc biệt, đình làng Hạ Hiệp còn giữ được 2 bể cảnh bằng đá có kiểu dáng tương tự nhau. Kích thước mỗi bể là 95x45x30cm. Trên thân bể chạm nổi các hình long cuốn thủy, hoa sen, sóng nước... Trên thân mỗi bể này còn ghi rõ niên đại tạo dựng là năm Gia Long thứ 15 (1816). Đây là hai hiện vật khá độc đáo, lại được ghi niên đại cụ thể, có thể xem là rất hiếm gặp trong các di tích cùng loại.

Lễ hội

Hội đình Hạ Hiệp được tổ chức vào ngày 12 tháng 3 âm lịch, ngày hóa của thành hoàng làng Hoàng Đạo. Hội đình có nhiều nghi lễ tế tự truyền thống và nhiều trò vui dân gian độc đáo, là cuộc rước với những trai làng khoẻ mạnh, mặc áo đỏ nẹp trắng, vác phạng, kích giáo, long đao... tượng trưng cho đạo quân chiến đấu dưới quyền của Hoàng Đạo. Đám rước có 3 cỗ kiệu, rước từ Quán Dâu là nơi có miếu thờ Hoàng Đạo (tục truyền đây là căn cứ chiến đấu của ông và ông đã hi sinh ở đây) về đình Hạ Hiệp. Sau khi tế lễ long trọng ở đình, hết lễ kiệu rước Thành hoàng về miếu.

Vấn đề

Ngôi đình đang đối mặt với việc chứa nhiều đồ cung tiến, khiến cho diện tích và không gian bị lấn chiếm. Đa số chúng đều là đồ đá: đèn đá, lư hương đá, cặp ngà voi giả gắn đá, sập đá.

Kinh nghiệm đi chùa

  • Trang phục lịch sự, kín đáo; bỏ mũ nón và giữ yên lặng khi vào chánh điện.
  • Hương, hoa và lễ vật thường được bán ngay trước cổng chùa; chỉ nên thắp số lẻ (1 hoặc 3 nén).
  • Hầu hết các chùa mở cửa từ sáng sớm đến chiều tối và không thu vé (một số danh thắng lớn có vé thắng cảnh).
  • Dịp rằm, mùng 1 và lễ Tết rất đông; nếu muốn vãn cảnh yên tĩnh nên đi ngày thường buổi sáng.
  • Xin phép trước khi chụp ảnh trong điện thờ; không tự ý chạm vào tượng và đồ thờ.

Đọc thêm & tham khảo

Các liên kết hữu ích để tìm hiểu thêm trước khi ghé thăm:

Vị trí

Toạ độ: 21.06063, 105.64108

🧭 Chỉ đường trên Google Maps

Chùa khác tại Hà Nội

🏯
Các chùa ở Hương Sơn
Hương Sơn là một xã nằm ở phía nam huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Tại đây có nhiều dãy núi đá vôi kề bên những dòng suối uốn lượn quanh co. Trên núi và trong các hang, người ta đã cho xây dựng nhiều đền chùa mà trung tâm là chùa Hương trong động Hương Tích. Hệ thống chùa chiền, đền thờ và hang động nằm trong khu vực này dựa theo những ngọn núi đá vôi và rừng nhiệt đới, diện tích tất cả khoảng chừng 6 km².
🏯
Chùa Anh Linh
Chùa Anh Linh hay Anh Linh Tự nằm ở phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Chùa do công chúa Trần Khắc Hãn (công chúa Túc Trinh), con gái vua Trần Nhân Tông đã giúp nhân dân khai hoang, lập làng và xây dựng nên chùa này. Năm 1993, chùa được xếp hạng di tích lịch sử nghệ thuật.
Chùa Bà Đá
Chùa Bà Đá
Chùa Bà Đá, còn có các tên: Linh Quang tự, Sùng Khánh tự, là một ngôi chùa cổ ở số 3 phố Nhà Thờ, Hà Nội, gần hồ Hoàn Kiếm. Chùa Bà Đá được xây năm 1056 dưới đời Lý Thánh Tông. Chùa được dựng trên nền tháp Báo Thiên nổi tiếng của kinh thành Thăng Long xưa. Chùa có tiền đường xây theo kiểu chữ nhất, trung đường xây theo kiểu chữ đinh, được nối liền với nhau, tạo nên một khối kiến trúc vuông vắn. Trong chùa có nhiều tượng gỗ. Chùa nằm trên một con phố nhỏ và dài chỉ vài trăm mét nhưng hiện diện cả hai hệ ý thức tín ngưỡng Phật giáo và Công giáo. Chùa vốn là trường sở của Lâm Tế tông; hiện nay chùa là trụ sở chính Thành hội Phật giáo Hà Nội. Trong chùa có Trường Trung cấp Phật học Hà Nội. Tại chùa hàng năm vẫn thường xuyên là nơi tổ chức các buổi lễ của Thành hội Phật giáo Hà Nội. Trước kia trong chùa có Tượng Phát Lâm (tượng có nụ cười yêu đời) được coi là một trong tứ khí của Hà Nội.
🏯
Chùa Bà Già
Chùa Bà Già là một ngôi chùa ở làng Phú Gia, phường Phú Thượng, Hà Nội.
Chùa Bà Nành (Hà Nội)
Chùa Bà Nành (Hà Nội)
Chùa Bà Nành (còn có tên là Tiên Phúc tự), là một ngôi chùa tọa lạc ở số nhà 27 phố Văn Miếu (Hà Nội), một cổng khác nằm tại số 154 phố Nguyễn Khuyến.
Chùa Bà Ngô (Hà Nội)
Chùa Bà Ngô (Hà Nội)
Chùa Bà Ngô là một ngôi chùa cổ ở Hà Nội, có niên đại từ thời vua Lý Nhân Tông, có tên chữ là Ngọc Hồ tự tức Chùa Ngọc Hồ, hiện nay tọa lạc số 128 phố Nguyễn Khuyến, phường Văn Miếu, Hà Nội. Người Pháp quen gọi đây là chùa Sinh Từ, vì nó nằm trên đường Sinh Từ. Trải qua gần 900 năm tồn tại, chùa Bà Ngô lưu giữ được nhiều văn bia, câu đối và một khối lượng di vật rất lớn ở nhiều thể loại như long ngai, bài vị, các tế khí... Chùa là một kiến trúc tôn giáo đẹp, độc đáo gắn liền với nhiều sự tích và nhân vật trong tiến trình phát triển của lịch sử Thăng Long - Hà Nội.