Chùa Việt Nam

Chùa Keo Hành Thiện

Ninh Bình(khu vực Nam Định cũ)

Chùa Keo Hành Thiện

Giới thiệu & lịch sử

Chùa Keo (tên chữ: Thần Quang tự 神 光 寺) là một ngôi chùa ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam. Từ phường Hoa Lư, trung tâm tỉnh Ninh Bình tới chùa 57 km. Đây là một trong những ngôi chùa cổ ở Việt Nam được bảo tồn hầu như còn nguyên vẹn kiến trúc 400 năm tuổi. Chùa đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2016.

Nguồn gốc

Tương truyền, nguyên thủy chùa do Thiền sư Không Lộ xây dựng ở ven sông Hồng từ năm 1061 dưới thời Lý Thánh Tông, tại hương Giao Thủy, phủ Hải Thanh.

Ban đầu, chùa có tên là Nghiêm Quang tự, đến năm 1167 mới đổi thành Thần Quang tự. Vì Giao Thủy có tên Nôm là Keo, nên ngôi chùa này cũng được gọi là chùa Keo. Chùa do thiền sư sáng lập là Dương Không Lộ quê gốc làng Giao Thủy, phủ Hải Thanh, quê mẹ là làng Hán Lý, phủ Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Không Lộ, Giác Hải, Đạo Hạnh là ba vị thiền sư, quốc sư thời Lý, cùng kết nghĩa sang Tây Trúc học đạo.

Sau gần 500 năm tồn tại, năm 1611, nước sông Hồng lên to, làm sạt lở làng Giao Thủy, nơi có chùa. Một bộ phận dân cư dời về phía nam sông Hồng, đến trang Hành Cung (thời Nguyễn đổi làng Hành Thiện) xây dựng nên ngôi chùa Keo mới, thường được gọi là chùa Keo Dưới (Keo Hạ) hay chùa Keo Hành Thiện (nay ở xã Xuân Hồng, Ninh Bình). Một bộ phận dân cư dời sang tả ngạn sông Hồng, lập làng Dũng Nhuệ trên đất Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên, về sau cũng dựng lên một ngôi chùa, gọi là chùa Chùa Keo Thái Bình hay Keo Trên, Keo Thượng.

Kiến trúc

Ban đầu, chùa được xây dựng tạm trên nền đất của làng. Năm Hoằng Định thứ 13 (1612), chùa được tu sửa hoàn chỉnh và có dáng dấp như ngày nay. Trong 400 năm tiếp theo, chùa nhiều lần được tu bổ lớn như vào các năm Cảnh Trị thứ 9 (1671), Chính Hoà thứ 25 (1704), Thành Thái thứ 7 (1896) và đặc biệt từ năm 1962 chùa Keo đã được nhà nước công nhận là Di tích lịch sử văn hoá, nên đã được tôn tạo nhiều lần.

Được khởi công xây dựng trước, kiến trúc chùa Keo Hành Thiện có ảnh hưởng rất lớn đến chùa Keo ở Thái Bình. Phía trước chùa có hồ bán nguyệt nước trong xanh, soi bóng tháp chuông mái cong uy nghiêm, thơ mộng. Không gian chùa là cả một khu kiến trúc cổ to lớn, bề thế với 13 tòa rộng gồm 121 gian nối tiếp nhau soi bóng xuống mặt hồ lung linh huyền diệu. Hai bên đường kiệu lát gạch, kề liền hai dãy hành lang, mỗi dãy gồm 40 gian bề thế.

Tuy không có gác chuông chồng diêm 3 tầng 12 mái đồ sộ như chùa Keo Thái Bình, gác chuông chùa Keo Hành Thiện cũng là một sự kết hợp hài hòa của kiến trúc tam quan nội 5 gian, làm theo kiểu chồng diêm, cao 7m50. Dáng vẻ thanh thoát với mái cong, bờ cánh kẻ bảy uốn lượn. Phía dưới là 8 đại trụ và 16 cột quân được đặt trên đá tảng chạm khắc hoa văn cánh hoa sen nở.

Ngoài vẻ đẹp về kiến trúc, trong chùa còn lưu giữ, bảo tồn những di vật cổ có giá trị của thế kỷ 17 thời Hậu Lê. Đó là những án thư, sập thờ, tượng pháp nhiều chuông khánh, văn bia cổ, hoành phi câu đối và sách chữ Hán nói về chùa Keo. Sau chùa là đền Thánh thờ Đức Thánh Tổ Đại pháp thiền sư Không Lộ, người chữa khỏi bệnh cho vua Lý Nhân Tông.

Lễ hội

Lễ hội chùa Keo Hành Thiện diễn ra từ ngày mồng 10 cho đến hết ngày 16 âm lịch tháng 9 hằng năm. Từ vài ba ngày trước khi khai hội, toàn dân tham gia tổng vệ sinh đường làng ngõ xóm, treo cờ đại của các phe xóm ở hai đầu xóm và dọc đường Thổ lối trước. Các phe/xóm hạ thủy thuyền trải vào ngày khai hội hoặc trước đó vài ba ngày để trai làng chèo tập. Từ sáng sớm ngày khai hội, chuông khánh lớn và trống cái hoà tấu từng hồi dài vang động khắp xóm làng. Sau lễ nhập tịch mở cửa chùa, làng làm lễ thỉnh Phật, lễ tấu Thánh, lễ dâng hương và dựng cờ khai hội. Sau lễ khai hội, các vị trong Ban Tổ chức và Ban chỉ đạo Lễ hội cùng quan khách xã và huyện tới Nhà Lưu niệm cố Tổng bí thư Trường Chinh làm lễ dâng hương lên Người. Sau phần nghi lễ là các hoạt động văn hoá thể thao vui chơi giải trí quanh chùa.

Đặc biệt ở Lễ hội chùa Keo có môn Đua thuyền là một trong những môn thi cổ truyền và độc đáo nhất (mà không giống bất cứ môn thi của Lễ hội nào khác trên đất nước Việt Nam) Môn thi này gồm 10 người trên một chiếc thuyền mà dân làng Hành Thiện gọi là "trải", điều khác biệt là Bơi Trải đứng (như chèo đò) gồm 9 người chèo và 1 người lái, có 15 trải như thế. Cuộc đua được tổ chức vào hai ngày Lễ hội chính: ngày 12 và 15 tháng 9 âm lịch. Song song với Bơi Trải là Phụng Nghinh, một trong những nghi thức quan trọng nhất của Lễ hội.

Kinh nghiệm đi chùa

  • Trang phục lịch sự, kín đáo; bỏ mũ nón và giữ yên lặng khi vào chánh điện.
  • Hương, hoa và lễ vật thường được bán ngay trước cổng chùa; chỉ nên thắp số lẻ (1 hoặc 3 nén).
  • Hầu hết các chùa mở cửa từ sáng sớm đến chiều tối và không thu vé (một số danh thắng lớn có vé thắng cảnh).
  • Dịp rằm, mùng 1 và lễ Tết rất đông; nếu muốn vãn cảnh yên tĩnh nên đi ngày thường buổi sáng.
  • Xin phép trước khi chụp ảnh trong điện thờ; không tự ý chạm vào tượng và đồ thờ.

Đọc thêm & tham khảo

Các liên kết hữu ích để tìm hiểu thêm trước khi ghé thăm:

Vị trí

Toạ độ: 20.34222, 106.32167

🧭 Chỉ đường trên Google Maps

Chùa khác tại Ninh Bình

🏯
Chùa Bà Đanh
Chùa Bà Đanh là một ngôi chùa nằm ở thôn Đanh, phường Kim Bảng, tỉnh Ninh Bình, diện tích khoảng 10ha. Chùa quay mặt hướng Nam ra mạn sông Đáy. Phía ngoài cùng tiếp giáp với đường đi và gần bờ sông là cổng tam quan của chùa. Công trình này nền được tôn cao, xây vượt hẳn lên năm bậc và hai đầu xây bít đốc. Tam quan có ba gian và được làm thành hai tầng. Tầng trên có hai lớp mái lợp bằng ngói nam, xung quanh sàn gỗ hàng lan can là những trấn song con tiện. Tầng này sử dụng làm gác chuông, ba gian dưới có hệ thống cánh cửa bằng gỗ lim.
🏯
Chùa Đồng Vũ
Chùa Đồng Vũ thuộc thôn Đồng Vũ, xã Đạo Lý, huyện Lý Nhân. Căn cứ vào dòng lạc khoản khắc trên bia "Sùng Khánh tự bia" niên hiệu Nguyên Thống 4 (1525) thì chùa được dựng đầu thời Lê Sơ, trên khu đất nổi, nằm biệt lập về phía nam làng. Đến năm Bảo Đại thứ 13 (1937), làng chuyển chùa về khu đất bên trái đình, tạo điều kiện cho sinh hoạt tôn giáo của dân làng. Hiện giờ chùa còn l­­ưu giữ đ­­ược nhiều đồ thờ cổ thư quý hiếm, có giá trị nghệ thuật cao, tiêu biểu phải kể đến cây khánh đá.
🏯
Chùa Thanh Am
Chùa Thanh Am còn gọi là Thanh Am tự hay chùa Vật là một ngôi chùa cổ tọa lạc tại thôn Tiền, xã Hư Tả, huyện Nam Chân, Trấn Sơn nam hạ, nay tại thôn Đoài Đông, phường Vị Khê, tỉnh Ninh Bình. Chùa Thanh Am còn giữ được nhiều mảng chạm khắc thời Lê Trung Hưng có giá trị nghệ thuật cao. Hội chùa được mở vào ngày 14 và ngày 15 tháng 2 âm lịch. Ngoài rước sách, tế lễ đọc kệ, còn có đấu vật của trẻ em, và đô vật trong vùng về biểu diễn chầu thánh và tranh giải.
🏯
Chùa Tràn
Chùa Tràn hay Phúc Lâm Tự là một ngôi chùa cổ, xưa tọa lạc tại làng Tràn nên có tên này, nay thuộc thôn Khang Giang, xã Yên Đồng, tỉnh Ninh Bình. Chùa được xây dựng dưới thời nhà Lý (cuối thế kỷ 11), ban đầu chùa được dựng bằng tường đất, lợp mái rạ; tới nay, chùa đã trải qua ba lần đại trùng tu. Trên tháp chuông của nhà chùa còn ghi lại câu đối của tiến sĩ nhà Nguyễn là Phạm Văn Nghị:
🏯
Chùa Tự Lạc
Chùa Tự Lạc, tên chữ Thái An tự, nằm ở xóm 11, xã Xuân Hưng, tỉnh Ninh Bình. Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến chống Pháp, chùa là nơi nuôi giấu cán bộ cộng sản và in ấn tài liệu. Tại chùa có nhà sư Thích Thanh Điến đã tích cực vận động phật tử ủng hộ phong trào cách mạng và phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp. Chùa là nơi thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của 3 huyện Xuân Trường, Hải Hậu và Giao Thủy. Lễ hội đền chùa Tự Lạc được tổ chức hàng năm vào ngày kỵ của đức Triệu Việt Vương - ngày 13 tháng 8 âm lịch. Ngày 26 tháng 2 năm 2003, chùa Tự Lạc được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa.
Chùa Bà Ngô (Ninh Bình)
Chùa Bà Ngô (Ninh Bình)
Chùa Bà Ngô là ngôi chùa cổ thuộc quần thể di tích quốc gia đặc biệt cố đô Hoa Lư, chùa được xây từ thời nhà Đinh, sát bên phải bờ đê sông Hoàng Long và liền kề khu vực ngoại vi thành Hoa Lư xưa. Chùa Bà Ngô do Ngô phu nhân, hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng, mẹ của một trong 12 sứ quân Ngô Nhật Khánh sáng lập.