Chùa Việt Nam

Chùa Bồ Đề (Hà Nội)

Hà Nội

Giới thiệu & lịch sử

Chùa Bồ Đề nằm ở phố Phú Viên, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội (trước kia thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội), cách bờ bắc cầu Chương Dương khoảng 500m về phía Nam. Nơi chùa chính thờ Phật pháp, vương triều nhà Trần, tam toà thánh Mẫu. Năm 2014, Chùa Bồ Đề từng được gọi là "nơi bình yên" hay nơi cứu rỗi những mảnh đời bị bỏ rơi giữa chốn nhân gian.

Nơi đây là bến Bồ Đề, nơi Lê Lợi đóng quân đánh thành Đông Quan, đánh đuổi quân Minh xâm lược.

Chùa Bồ Đề có tên chữ là Thiên Sơn. Tấm bia cổ dựng năm Hoằng Định thứ 15 (1614) đời Lê Kính Tông có chép lại việc dựng lại chùa và ghi rõ "đại công đức Bồ Đề" của vua Lê Thái Tổ. Chùa chỉ còn tòa thượng 5 gian xây trên nền cao, dáng bề thế, cổ kính. Bồ Đề hiện nay là một phường thuộc quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Sở dĩ gọi là "Bồ Đề" vì xa xưa trong làng có hai cây bồ đề cao, nổi bật giữa những làng quê ven sông Hồng, ngang đỉnh tháp chùa Báo Thiên ở trong Kinh thành Thăng Long ở bên kia sông.

Chùa Bồ Đề còn có tên gọi là Thiên Sơn tự. Chùa toạ lạc tại thôn Phú Yên, xã Bồ Đề, huyện Gia Lâm, cách bờ Bắc cầu Chương Dương khoảng 500m về hướng Nam, nay thuộc quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Đây là một ngôi chùa nữ và cũng là mái ấm tình thương đùm bọc, cưu mang trẻ mồ côi. Tương truyền chùa được xây trên đất dinh Bồ Đề của Lê Lợi khi vua bao vây thành Đông Quan năm 1472. Các tài liệu lịch sử còn ghi lại là: "Vua làm lầu nhiều tầng ở dinh Bồ Đề trên bờ sông Lô, cao bằng tháp Báo Thiên, hàng ngày ngự trên lầu quan sát vào trong thành xem giặc làm gì". Dinh được gọi tên là dinh Bồ Đề vì lúc ấy trong khuôn viên có hai cây bồ đề to. Tấm bia cổ dựng năm Hoằng Định thứ 15 (1614) đời Lê Kính Tông có chép lại việc dựng lại chùa và ghi rõ "Đại công đức Bồ Đề" của vua Lê Thái Tổ. Thế nhưng, cũng có nhiều ý kiến cho rằng chùa được xây từ cuối đời nhà Trần, trên một gò đất cao gọi là Núi Trời (nên còn có tên gọi là Thiên Sơn). Sau này, do bị chiến tranh tàn phá nên năm 1614, chùa được trùng tu tôn tạo trên nền chùa cũ và công đức khắc in vào hai quyển Pháp Hoa kinh để lưu hành. Đến giữa thế kỉ XVIII, chùa lại tiếp tục bị chiến tranh huỷ hoại. Năm Giáp Tuất đời Tự Đức 27 (1874), đại sư Thích Nguyên Biểu, tự hiệu Nhất Thiết đại sư (1835 - 1906) đến trụ trì và ngài đã trùng tu, tôn tạo trên nền chùa cũ gồm thượng điện rộng 5 gian, cho thỉnh thêm tượng Phật mới, chùa Hộ, nhà Thiêu hương, nhà Pháp bảo và cửa Tam quan.

Đầu thế kỉ XX, chùa Bồ Đề trở thành trung tâm đào tạo tăng ni của thành phố Hà Nội, trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Hoà thượng Thích Trí Hải đảm trách. Năm 1946, Pháp trở lại gây chiến, trung tâm đã dời đi nơi khác.

Năm 1951, thành phố bị lũ lụt lớn, chùa bị sạt lở, chỉ còn lại toà thượng điện. Năm 1971, chùa một lần nữa được trùng tu như kê kích lại toàn bộ thượng điện và xây dựng lại hậu cung phía sau, nâng cao nền chùa. Năm 1986, chùa được trùng tu nhà Tổ, hậu liêu, nhà khách, nhà Tăng, nhà bếp cũng như khu vực nhà ở của hơn 50 cô nhi đang được nuôi dạy tại chùa. Năm 1999, chùa tiếp tục xây lầu bát giác và tôn trí tượng Bồ Tát Quan Thế Âm cao 3,2m.

Hiện nay, chùa là mái ấm tình thương dành cho các em bé mồ côi, cơ nhỡ, đồng thời cũng là điểm tham quan thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước

Các Thế Hệ Truyền Thừa Tại Tổ Đình Bồ Đề

Thế hệ thứ nhất: Tổ Nguyên Biểu Thiền Sư, pháp húy Thích Nhất Thiết (1836 - 1906), thế danh Phạm Đình Vợi.

Thế hệ thứ 2: Thích Quảng Trí, Thích Quảng Chấn, Thích Quảng Tựu, Thích Quảng Ích, Thích Quảng Gia.

Thế hệ thứ 3: Thích Tục Kiên, Thích Tục Thức, Thích Tục Đương, Thích Tục Khê, Thích Tục Đoan (tổ Cao Đà Thích Thông Đoan).

Thế hệ thứ 4: Thích Tâm Tịch.

Thế hệ thứ 5: Thích Bảo Nghiêm (1956), Thích Nguyên Hạnh (1957), Thích Nguyên Huân (1967, giám viện tổ đình).

Ngoài ra Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu phó chủ tịch thường trực hội đồng trị sự cũng thuộc sơn môn Bồ Đề.

Các đời trụ trì

Tổ Bồ Đề Thích Nguyên Biểu (1836 - 1906)

Hoà Thượng Thích Trí Hải (1906 -1979)

Hoà Thượng Thích Tâm Tịch (1915 -2005), đệ nhị pháp chủ GHPGVN

Ni sư Thích Đàm Lan (1956)

Kinh nghiệm đi chùa

  • Trang phục lịch sự, kín đáo; bỏ mũ nón và giữ yên lặng khi vào chánh điện.
  • Hương, hoa và lễ vật thường được bán ngay trước cổng chùa; chỉ nên thắp số lẻ (1 hoặc 3 nén).
  • Hầu hết các chùa mở cửa từ sáng sớm đến chiều tối và không thu vé (một số danh thắng lớn có vé thắng cảnh).
  • Dịp rằm, mùng 1 và lễ Tết rất đông; nếu muốn vãn cảnh yên tĩnh nên đi ngày thường buổi sáng.
  • Xin phép trước khi chụp ảnh trong điện thờ; không tự ý chạm vào tượng và đồ thờ.

Đọc thêm & tham khảo

Các liên kết hữu ích để tìm hiểu thêm trước khi ghé thăm:

Vị trí

Toạ độ: 21.03570, 105.86694

🧭 Chỉ đường trên Google Maps

Chùa khác tại Hà Nội

🏯
Các chùa ở Hương Sơn
Hương Sơn là một xã nằm ở phía nam huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Tại đây có nhiều dãy núi đá vôi kề bên những dòng suối uốn lượn quanh co. Trên núi và trong các hang, người ta đã cho xây dựng nhiều đền chùa mà trung tâm là chùa Hương trong động Hương Tích. Hệ thống chùa chiền, đền thờ và hang động nằm trong khu vực này dựa theo những ngọn núi đá vôi và rừng nhiệt đới, diện tích tất cả khoảng chừng 6 km².
🏯
Chùa Anh Linh
Chùa Anh Linh hay Anh Linh Tự nằm ở phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Chùa do công chúa Trần Khắc Hãn (công chúa Túc Trinh), con gái vua Trần Nhân Tông đã giúp nhân dân khai hoang, lập làng và xây dựng nên chùa này. Năm 1993, chùa được xếp hạng di tích lịch sử nghệ thuật.
Chùa Bà Đá
Chùa Bà Đá
Chùa Bà Đá, còn có các tên: Linh Quang tự, Sùng Khánh tự, là một ngôi chùa cổ ở số 3 phố Nhà Thờ, Hà Nội, gần hồ Hoàn Kiếm. Chùa Bà Đá được xây năm 1056 dưới đời Lý Thánh Tông. Chùa được dựng trên nền tháp Báo Thiên nổi tiếng của kinh thành Thăng Long xưa. Chùa có tiền đường xây theo kiểu chữ nhất, trung đường xây theo kiểu chữ đinh, được nối liền với nhau, tạo nên một khối kiến trúc vuông vắn. Trong chùa có nhiều tượng gỗ. Chùa nằm trên một con phố nhỏ và dài chỉ vài trăm mét nhưng hiện diện cả hai hệ ý thức tín ngưỡng Phật giáo và Công giáo. Chùa vốn là trường sở của Lâm Tế tông; hiện nay chùa là trụ sở chính Thành hội Phật giáo Hà Nội. Trong chùa có Trường Trung cấp Phật học Hà Nội. Tại chùa hàng năm vẫn thường xuyên là nơi tổ chức các buổi lễ của Thành hội Phật giáo Hà Nội. Trước kia trong chùa có Tượng Phát Lâm (tượng có nụ cười yêu đời) được coi là một trong tứ khí của Hà Nội.
🏯
Chùa Bà Già
Chùa Bà Già là một ngôi chùa ở làng Phú Gia, phường Phú Thượng, Hà Nội.
Chùa Bà Nành (Hà Nội)
Chùa Bà Nành (Hà Nội)
Chùa Bà Nành (còn có tên là Tiên Phúc tự), là một ngôi chùa tọa lạc ở số nhà 27 phố Văn Miếu (Hà Nội), một cổng khác nằm tại số 154 phố Nguyễn Khuyến.
Chùa Bà Ngô (Hà Nội)
Chùa Bà Ngô (Hà Nội)
Chùa Bà Ngô là một ngôi chùa cổ ở Hà Nội, có niên đại từ thời vua Lý Nhân Tông, có tên chữ là Ngọc Hồ tự tức Chùa Ngọc Hồ, hiện nay tọa lạc số 128 phố Nguyễn Khuyến, phường Văn Miếu, Hà Nội. Người Pháp quen gọi đây là chùa Sinh Từ, vì nó nằm trên đường Sinh Từ. Trải qua gần 900 năm tồn tại, chùa Bà Ngô lưu giữ được nhiều văn bia, câu đối và một khối lượng di vật rất lớn ở nhiều thể loại như long ngai, bài vị, các tế khí... Chùa là một kiến trúc tôn giáo đẹp, độc đáo gắn liền với nhiều sự tích và nhân vật trong tiến trình phát triển của lịch sử Thăng Long - Hà Nội.